Tạo đĩa Hiren’s Boot 8.5 bằng đĩa USB

Tháng Hai 6, 2007

Do
tính phổ dụng của đĩa USB và tiện ích của bộ công cụ Hiren’s Bootcd,
hôm nay Tôi trình bày cách làm đĩa Hiren’s boot 8.5 (hoặc mới hơn) với
đĩa USB.

Các bước tiến hành như sau:

- Bước 1: Đặt đĩa BootCD 8.5 hoặc mới hơn vào ổ CD

- Bước 2: Khởi động máy với đĩa Hiren’s Bootcd và chọn Start Mini Windows 98

- Bước 3:
Copy Files từ ổ A:\ (Floppy Drive) sử dụng Explorer tới thư mục C:\USB
và khởi đông lại máy tính ở mode windows bình thường hoặc nếu bạn không
nhìn thấy ổ đĩa cứng từ mini windows 98 thì bạn cần copy vào 1 đĩa mềm
trắng. Click Start > Turn Off > Exit to Dos và gõ vào COPY A:\*.* B:\

Bây
giờ lấy đĩa mềm ra khỏi ổ đĩa và khởi động lại máy ở Windowns bình
thường và đưa đĩa mềm vào ổ và copy tất cả các file vào thư mục C:\USB

- Bước 4: Download USB Disk Storage Format (34KB)

Ghi chú: USB Disk Storage Format Làm
việc trên Winxp. Với Windows 98 thì vào My computer, click chuột phải
trên USB Drive và chọn Format. Bạn cần đĩa USB dung lượng từ 64MB trở
lên.

- Bước 5: Copy tất cả file (trừ IO.SYS; MSDOS.SYS; COMMAND.COM) từ C:\USB đến ổ đĩa USB.

- Bước 6: Copy THƯ MỤC BOOTCD trên đĩa CD Hiren’s 8.5 vào C:\BOOTCD và sau đó copy C:\BOOTCD vào ĐĨA USB.

- Bước 7: Chạy kiểm tra lại đĩa USB của bạn.

Chúc thành công!

Lê Minh Sang – Ngân hàng Kiên Long
Email: lnkn7@yahoo.com
Website: http://kienlongbank.com

powered by performancing firefox


Tăng tốc độ sử dụng Windows qua các phím nhanh !

Tháng Một 3, 2007

+ Các tổ hợp phím windows

- Mở menu Start: nhấn phím Windows
- Truy cập Taskbar với nút đầu tiên được chọn: Windows + Tab
- Mở hộp thoại System Properties: Winndows + Pause
- Mở Windows Explorer: Windows + E
- Thu nhỏ / phục hồi các cửa sổ: Windows + D
- Thu nhỏ tất cả các cửa sổ đang mở: Windows + M
- Hủy bỏ việc thu nhỏ các cửa sổ đang mở: Shift + Windows + M
- Mở hộp thoại Run: Windows + R
- Mở Find: All files: Windows + F
- Mở Find: Computer: Ctrl + Windows + F

+ Làm việc với Desktop, My Computer và Explorer:

- Mở phần trợ giúp chung: F1
- Đổi tên thư mục được chọn: F2
- Mở hộp thoại tìm file trong thư mục hiện hành: F3
- Cập nhật lại nội dung cửa sổ My Computer và Explorer: F5
- Xóa mục được chọn và đưa vào Rycycle Bin: Del (Delete)
- Xóa hẳn mục được chọn, không đưa vào Rycycle Bin: Shift + Del (Shift + Delete)
- Hiển thị menu ngữ cảnh của mục được chọn: Shift + F10
- Hiển thị hộp thoại Properties của mục được chọn: Alt + Enter
- Mở menu Start: Ctrl + Esc
- Chọn một mục từ menu Start: Ctrl + Esc, Ký tự đầu tiên (Nếu là phần
trên của menu) hoặc Ký tự gạch chân (Nếu ở phần dưới của menu) thuộc
tên mục được chọn.
- Đóng một chương trình đang bị treo: Ctrl + Alt + Del, Enter

+ Làm việc với Windows Explorer:

- Mở hộp thoại Goto Folder: Ctrl + G hoặc F4
- Di chuyển qua lại giữa 2 khung và hộp danh sách folder của cửa sổ Explorer: F6
- Mở folder cha của folder hiện hành: Backspace
- Chuyển đến file hoặc folder: Ký tự đầu của tên file hoặc folder tương ứng
- Mở rộng tất cả các nhánh nằm dưới folder hiện hành: Alt + * ( * nằm ở bàn phím số)
- Thu gọn tất cả các nhánh nằm dưới folder hiện hành: Alt + – (dấu – nằm ở bàn phím số)
- Mở rộng nhán hiện hành nếu có đang thu gọn, ngược lại chọn Subfolder đầu tiên: è
- Thu gọn nhánh hiện hành nếu có đang mở rộng, ngược lại chọn folder cha: ç

+ Làm việc với cửa sổ:

- Chuyển đổi giữa các cửa sổ tài liệu: Ctrl + F6
- Chuyển đổi giữa các cửa sổ tài liệu (theo chiều ngược lại): Ctrl + Shift + F6
- Thu nhỏ cửa sổ tài liệu hiện hành: Ctrl + F9
- Phóng lớn cửa sổ tài liệu hiện hành: Ctrl + F10
- Thu nhỏ tất cả các cửa sổ: Ctrl + Esc, Alt + M
- Thay đổi kích thước cửa sổ: Ctrl + F8, Phím mũi tên, Enter
- Phục hồi kích thước cửa sổ tài liệu hiện hành: Ctrl + F5
- Đóng cửa sổ tài liệu hiện hành: Ctrl + W
- Di chuyển cửa sổ: Ctrl + F7, Phím mũi tên, Enter
- Sao chép cửa sổ hiện hành vào vùng đệm: Alt + Print Screen
- Chép toàn bộ màn hình vào vùng đệm: Print Screen
- Chuyển đổi giữa các chương trình và folder đang mở: Alt + Tab
- Chuyển đổi giữa các chương trình và folder đang mở (theo chiều ngược lại): Alt + Shift + Tab
- Chuyển đổi giữa các chương trình đang chạy: Alt + Esc
- Chuyển đổi giữa các chương trình đang chạy (theo chiều ngược lại): Alt + Shoft + Esc
- Mở menu điều khiển của chương trình hoặc folder cửa sổ hiện hành: Alt + SpaceBar
- Mở menu điều khiển của tài liệu hiện hành trong một chương trình: Alt + –
- Đóng chương trình đang hoạt động: Alt + F4

+ Làm việc với hộp thoại:

- Mở folder cha của folder hiện hành một mức trong hộp thoại Open hay Save As: BackSpace
- Mở hộp danh sách, ví dụ hộp Look In hay Save In trong hộp thoại Open
hay Save As (Nếu có nhiều hộp danh sách, trước tiên phải chọn hộp thích
hợp): F4
- Cập nhật lại nội dung hộp thoại Open hay Save As: F5
- Di chuyển giữa các lựa chọn: Tab
- Di chuyển giữa các lựa chọn (theo chiều ngược lại): Shift + Tab
- Di chuyển giữa các thẻ (tab) trong hộp thoại có nhiều thẻ, chẳng hạn
hộp thoại Display Properties của Control Panel (Settings \ Control
Panel): Ctrl + Tab
- Di chuyển giữa các thẻ theo chiều ngược lại: Ctrl + Shift + Tab
- Di chuyển trong một danh sách: Phím mũi tên
- Chọn hoặc bỏ một ô kiểm (check box) đã được đánh dấu: SpaceBar
- Chuyển đến một mục trong hộp danh sách thả xuống: Ký tự đầu tiên của tên mục
- Chọn một mục; chọn hay bỏ chọn một ô kiểm: Alt + Ký tự gạch dưới thuộc tên mục hoặc tên ô kiểm
- Mở hộp danh sách thả xuống đang được chọn: Alt + ê
- Đóng hộp danh sách thả xuống đang được chọn: Esc
- Hủy bỏ lệnh đóng hộp thoại: Esc

powered by performancing firefox


15 thủ thuật XP

Tháng Một 3, 2007

Chuyển sang dùng Windows XP (XP) từ Windows 95/98 (Win9x) cũng giống nhý chuyển sang dùng Windows 95 từ Windows 3.1 năm năm trýớc đây. XP đýợc xây dựng trên nền tảng của Windows NT và 2000 vốn có độ ổn định cao hõn nhiều so với Win9x. Ngoài ra, XP cũng sử dụng hệ thống file gống nhý của NT và 2000. Điều này khiến cho XP trở thành một hệ điều hành (HĐH) đa ngýời dùng thực sự cho PC gia đình. Vì XP là một HĐH còn khá mới mẻ, cho nên bài viết này cố gắng đýa ra một số thủ thuật nhằm giúp ngýời dùng thông thýờng tận dụng một
cách tốt nhất khả năng của HĐH này.

Thủ thuật 1: HÃY DÙNG HỆ THỐNG FILE NTFS
Thật may mắn, XP hỗ trợ cả 2 hệ thống file FAT32 (đýợc Win9x hỗ trợ) và NTFS (đýợc NT và 2000 hỗ trợ). Điều này cho phép ngýời dùng lựa chọn hệ thống file phù hợp với yêu cầu công việc của mình. Tuy nhiên NTFS cung cấp những mức độ bảo mật tốt hõn nhiều so với FAT32. Với FAT32 trong Win9x, ai cũng có thể xâm nhập vào PC của bạn và làm bất cứ điều gì mà họ thích. Với NTFS, bạn có quyền cho hay không cho ai đó sử dụng máy tính của bạn. Và ngýời đýợc phép sử dụng PC của bạn cũng chỉ có thể hoạt động trong khuôn khổ mà bạn cho phép.

Để kiểm tra xem bạn đang dùng NTFS hay FAT32, chọn ổ đĩa cứng trong My Computer, nhấn chuột phải và chọn Properties. Nếu đang dùng FAT và muốn chuyển sang dùng NTFS, bạn hãy thực hiện việc chuyển đổi này từ dấu nhắc DOS trong XP mà không phải lo ngại gì về việc mất mát dữ liệu. Để chuyển đổi sang NTFS từ FAT, bạn chọn Start – All Programs – Accessories, and Command Prompt. Tại dấu nhắc, bạn gõ convert x: /fs:ntfs (x là tên ổ đĩa mà bạn chọn). Cũng cần lýu ý rằng, một khi đã chuyển sang NTFS, bạn sẽ không thể quay trở lại dùng FAT trừ phi bạn định dạng (format) lại ổ đĩa

Thủ thuật 2: TẠO TÀI KHOẢN HẠN CHẾ
Có 2 loại tài khoản ngýời dùng (user account) trong XP: tài khoản ngýời quản trị hệ thống (administrator account) và tài khoản ngýời dùng hạn chế (limited account). Sau khi cài đặt XP thành công, bạn nên ngay lập tức thiết đặt một tài khoản ngýời dùng hạn chế để phục vụ cho các công việc hàng ngày nếu nhý bạn đang dùng hệ thống file NTFS.

Để tạo một tài khoản ngýời dùng hạn chế, bạn phải đăng nhập vào tài khoản của ngýời quản trị hệ thống (theo ngầm định XP tạo ra tài khoản này khi bạn cài đặt HĐH). Sau đó, chọn Start – Control Panel – User Accounts – Create A New Account. Đặt tên cho tài khoản mới này rồi nhấn Next. Trong hộp thoại mới, chọn Limited Account. Mỗi khi muốn tạo mới hay thay đổi thuộc tính của các tài khoản, bạn nhất quyết phải đăng nhập vào tài khoản ngýời quản trị hệ thống.

Thủ thuật 3: SỬ DỤNG MẬT KHẨU
Sử dụng mật khẩu (password) là một hình thức bảo mật thông tin truyền thống và hiệu quả. Mặc dù Win9x có cung cấp cho bạn chế độ bảo vệ bằng mật khẩu, nhýng đối với đa số ngýời dùng thì tính năng này không có một chút hiệu quả nào. Còn XP làm cho việc sử dụng mật khẩu thể hiện đúng ý nghĩa của nó.

Trong XP, việc bảo vệ các tài khoản bằng mật khẩu không có tính bắt buộc. Tuy nhiên, theo tôi, bạn nên sử dụng mật khẩu với các tài khoản, ít nhất là với tài khoản ngýời quản trị hệ thống.

Theo ngầm định, XP coi tất cả các tài khoản ngýời dùng tạo ra khi cài đặt HĐH là tài khoản ngýời quản trị hệ thống và không yêu cầu mật khẩu khi ngýời dùng đăng nhập vào hệ thống. Để thay đổi điều này, bạn cần phải tạo mật khẩu mới. Trong User Accounts, chọn Change An Account và nhấn vào tài khoản bạn muốn dùng mật khẩu để bảo vệ. Trong tài khoản này, chọn Create A Password và gõ mật khẩu 2 lần. Để việc sử dụng mật khẩu có hiệu quả hõn, theo chúng tôi bạn không nên dùng chế độ “gợi nhắc mật khẩu” (password hint) vì ngýời dùng khác có thể căn cứ vào những gì bạn ghi ở đây để đoán ra mật khẩu của bạn. Sau khi nhấn nút Create Password, XP sẽ hỏi xem bạn có muốn để cho ngýời dùng khác tiếp cận các thý mục và các file trong tài khoản của bạn hay không. Nếu muốn riêng tý hõn nữa, bạn hãy trả lời “KHÔNG” với câu hỏi nêu trên.

Thủ thuật 4: DỰNG TÝỜNG LỬA
Khác với các phiên bản trýớc, XP có kèm theo một chýõng trình týờng lửa (Firewall) để bảo vệ bạn an toàn khi duyệt Web. Bức týờng lửa này dýờng nhý là đáng tin cậy, bởi vì cho tới nay chýa thấy có ngýời sử dụng nào phàn nàn về tính năng mới mẻ này trong XP

Có lẽ bạn đã từng tự hỏi: làm sao biết đýợc bức týờng đó đã đýợc dựng lên chýa? Để kểm tra, bạn vào Control Panel – nhấn chuột phải vào biểu týợng Network Connections – chọn Properties – nhãn Advanced, và chọn Internet Connection Firewall.

Thủ thuật 5: CHẠY CHÝÕNG TRÌNH BẰNG QUYỀN CỦA NGÝỜI QUẢN TRỊ HỆ THỐNG
XP có chế độ Fast User Switching, chế độ cho phép ngýời dùng chuyển đổi qua lại giữa các tài khoản mà không phải thoát ra và đóng các ứng dụng đang chạy. Để chế độ này hoạt động, bạn mở User Accounts và chọn Change The Way Users Log On Or Off. Trong hộp thoại mới bạn chọn cả Use The Welcome Screen và Use Fast User Switching.

Để chuyển đổi qua lại giữa các tài khoản ngýời dùng, bạn chọn Start – Log Off – Switch User. Để chạy một chýõng trình với quyền của ngýời quản trị hệ thống, bạn nhấn chuột phải vào biểu týợng của chýõng trình rồi chọn Run As. Trong hộp thoại mới, chọn tên của tài khoản quản trị hệ thống và nhập mật khẩu, và chýõng trình sẽ khởi động ngay lập tức. Bạn cũng cần lýu ý, có một số chýõng trình đòi hỏi bạn nhấn thêm phím Shift cùng với chuột phải.

Thủ thuật 6: CÁ NHÂN HOÁ THỰC ĐÕN START
So với các phiên bản trýớc, XP cung cấp nhiều khả năng thay đổi thực đõn Start hõn. Bạn có thể thêm, bớt hay thay đổi theo ý mình bất cứ thành phần nào của thực đõn Start. Để làm điều này, bạn nhấn chuột phải vào thực đõn Start và chọn Properties. Trong hộp thoại Task Bar and Start Menu Properties, nhấn nút Customize. Tại đây, bạn có thể lựa chọn dùng biểu týợng to hay nhỏ, cho phép hiển thị bao nhiêu chýõng trình vừa chạy, và đýa chýõng trình duyệt Web cùng chýõng trình e-mail ýa thích vào thực đõn Start. Trong nhãn Advanced bạn có thể chọn cách mà những thành phần nhý My Documents, My Computer, và Control Panel vv… xuất hiện cũng nhý nhiều tuỳ chọn khác mà bạn không thể có đýợc ở các phiên bản Windows trýớc đây.

Nếu nhý không thích cách mà thực đõn Start của XP xuất hiện, bạn có thể quay trở về với thực đõn truyền thống bằng cách chọn Classic Start Menu trong hộp thoại Task Bar and Start Menu Properties.

Thủ thuật 7: SỬ DỤNG TÍNH NĂNG KHÔI PHỤC HỆ THỐNG
Giống nhý Windows ME, XP cũng cung cấp khả năng khôi phục hệ thống về điểm trýớc một sự kiện này đó (cài đặt mới phần mềm hoặc xung đột hệ thống…) Để tạo một mốc khôi phục, bạn mở (All) Programs trong thực đõn Start, chọn Accessories – System Tools – System Restore. Trong cửa sổ System Restore, nhấn Create A Restore Point, nhấn Next, nhập tên cho điểm khôi phục hệ thống, rồi nhấn Create. Để đýa hệ thống trở lại một thời điểm nào đó, trong cửa sổ System Restore, chọn Restore My Computer To An Earlier Time, rồi chọn một điểm phù hợp để tiến hành khôi phục hệ thống. Sau khi nhấn Next 2 lần, hệ thống của bạn sẽ bắt dầu khôi phục về thời điểm bạn chọn. Quá trình này chỉ hoàn tất sau khi HĐH tự khởi động lại.

Thủ thuật 8: KHÔNG CẦN CHỈNH LẠI ĐỒNG HỒ
Ngýời dùng PC thýờng phàn nàn về việc đồng hồ hệ thống chạy sai sau một khoảng thời gian nào đó, và phải chỉnh sửa lại thời gian cho đúng một cách thủ công. Điều này sẽ không thể xảy ra trong XP nếu bạn thực hiện các býớc sau để đồng bộ hoá đồng hồ hệ thống với đồng hộ quốc tế (với điều kiện bạn có kết nối Internet).

Bạn đăng nhập vào tài khoản quản trị hệ thống, kết nối Internet, rồi nhấn đúp vào biểu týợng đồng hồ trên thanh công cụ. Chọn nhãn Internet Time trong hộp thoại Date and Time Properties. Đánh dấu kiểm vào Automatically Synchronize With An Internet Time Server và chọn một đồng hồ thích hợp từ thực đõn thả xuống, rồi nhấn nút Update Now.

Thủ thuật 9: KIỂM TRA TÍNH TÝÕNG THÍCH
Không phải chýõng trình nào cũng chạy tốt trong XP. Nếu không rõ về tính týõng thích, bạn hãy thử dùng Program Compatibility Wizard. Chọn Start – All Programs – Accessories – Program Compatibility Wizard.

XP cung cấp cho bạn nhiều khả năng để thử tính týõng thích của chýõng trình. Nếu chýõng chình chạy tốt ở một điều kiện nào đó, XP sẽ gợi ý bạn dùng các thiết đặt phù hợp nhất để chạy chýõng trình. Tất nhiên, XP cũng cho bạn biết liệu chýõng trình có hoạt động cùng HĐH không.

Thủ thuật 10: TẠO ĐĨA MỀM KHỞI ĐỘNG CHO XP
Tạo một đĩa khởi động trong Win9x không hề khó khăn chút nào. Nhýng Microsoft đã loại bỏ tính năng này trong Win 2000 và XP. Bạn cần có một đĩa mềm khởi động để khôi phục lại hệ thống trong các trýờng hợp nhý hỏng rãnh khởi động (boot sector), hỏng bảng ghi khởi động chính (Master Boot Record), bị nhiễm virus, mất hoặc hỏng file NTLDR, NTDETECT.COM, hoặc để khởi động trong trýờng hợp XP không thể khởi động đýợc cả ở chế độ Safe Mode.

Để tạo đĩa mềm khởi động trong XP (và Win2000), bạn làm nhý sau: Chuẩn bị một đĩa mềm đã đýợc định dạng. Chuyển tới ổ đĩa C:\, chép các file sau boot.ini, ntldr, ntdetect.com, bootsect.dos, NTBOOTDD.SYS (nếu có) sang đĩa mềm.

Thủ thuật 11: THIẾT ĐẶT LẠI BỘ NHỚ ẢO
Cho dù bạn có bao nhiêu RAM đi nữa thì Windows vẫn tạo ra thêm bộ nhớ ảo (paging files) trên đĩa cứng để tối ýu hóa hoạt động của hệ thống. Tối ýu hóa các file paging bằng cách cố định dung lýợng sẽ làm cho tốc độ tìm dữ liệu trên đĩa cứng nhanh hõn, HĐH cũng không phải đặt lại dung lýợng bộ nhớ ảo, giảm thiểu quá trình phân mảnh, và tiết kiệm đýợc đĩa cứng.

Để biết bạn cần dành bao nhiên megabyte cho bộ nhớ ảo, bạn hãy chạy một số chýõng trình thýờng dùng, rồi mở Task Manager (nhấn Ctrl – Alt – Del), nhấn vào nhãn Performance, và xem số megabyte ở khung Commit Charge là bao nhiêu. Đây là số lýợng bộ nhớ mà hệ thống của bạn cần lúc này. Dung lýợng bộ nhớ ảo tối thiểu sẽ là số megabyte này cộng thêm với 32 MB (nhýng nhiều ngýời cộng thêm với 64 MB). Thiết đặt hợp lý nhất là dung lýợng tối thiểu và tối đa của bộ nhớ ảo phải bằng nhau để XP không đặt lại dung lýợng bộ nhớ này nữa.

Để thực hiện việc đặt lại dung lýợng bộ nhớ ảo, bạn nhấn chuột phải vào My Computer, chọn Properties – nhãn Advanced – nhấn vào Settings của khung Performance – chọn Advanced trong hộp thoại Performance Options. Bạn nhấn tiếp vào nút Change – chọn ổ đĩa thích hợp – nhập dung lýợng bộ nhớ ảo tối thiểu và tối đa, rồi nhất Set. Bạn lặp lại các býớc nêu trên với các ổ đĩa
còn lại và các thay đổi sẽ có hiệu lực sau khi hệ thống khới động lại.

Thủ thuật 12: SỬ DỤNG SYSTEM CONFIGURATION UTILITY
Nếu bạn không muốn một chýõng trình nào đó khởi động cùng với XP, muốn tăng tốc độ khởi động của HĐH, muốn loại bỏ những dịch vụ hệ thống không cần thiết, muốn tìm hiểu những trục trặc của hệ thống… và nhiều điều khác, thì bạn hãy sử dụng tiện ích System Configuration.
Nếu đã sử dụng Win 98 và khai thác tính năng System Configuration Utility thì bạn có thể băn khoăn tại sao XP lại không có tính năng tuyệt vời này. Câu trả lời là XP có nhýng Microsoft không để tiện ích này trong System Information vì không muốn ngýời sử dụng can thiệp quá sâu vào hệ thống.

Muốn khởi động System Configuration Utility, bạn chọn Start – Run – gõ “mscomfig” hoặc chọn Start – Help and Support – chọn Use Tools to view your computer information and diagnose problems trong cửa sổ mới. – dýới hộp Tools, chọn System Configuration Utility.

Thủ thuật 13: SỬ DỤNG TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ CỦA WINDOWS
Nếu bạn không hiểu bản chất một thuật ngữ chuyên ngành nào đó, và bạn không tìm thấy hoặc không thỏa mãn với giải thích của các từ điển khác, thì từ điển thuật ngữ của XP (Windows Glossary) có thể làm bạn hài lòng.

Để sử dụng từ điển, bạn chọn Start – Help and Support – nhấn vào bất kỳ một chủ đề nào dýới Pick A Help Topic – Windows Glossary – gõ thuật ngữ cần đýợc giải thích vào hộp Search. Bạn cũng có thể chọn Start – Help and Support – gõ thuật ngữ cần đýợc giải thích vào hộp Search và XP sẽ liệt kê một số thành phần liên quan tới thuật ngữ đó, bao gồm cả từ điển (Glossary).

Thủ thuật 14: LOẠI BỎ MSN MESSENGER
Rất nhiều ngýời sử dụng XP không dùng và cũng không thích dịch vụ MSN Messenger. Rất tiếc Microsoft lại không nghĩ vậy, và thậm chí còn không cung cấp cách gỡ cài đặt chýõng trình này, Tuy nhiên, vẫn có cách để không phải khó chịu với MSN Messenger. Bạn làm nhý sau: Tìm tới file SYSOC.INF trong thý mục Windows\INF (chú ý: cả file và thý mục đều ở chế độ Hidden). Mở file này bằng Notepad, tìm tới dòng msmsgs=msgrocm.dll,OcEntry,msmsgs.inf,hide,7 và xóa chữ “hide” đi. Lýu file và khởi động lại PC, rồi tìm tới Control Panels – Add and Remove Programs – Add/Remove Windows Components. Lúc này tùy chọn cho phép gỡ cài đặt MSN Messenger đã xuất hiện.

Nếu cách trên hõi rắc rối và đang sử dụng bản XP Professional, thì bạn hãy làm theo cách sau: chọn Start – Run – gõ GPEDIT.MSC để mở Group Policy – chọn Computer Configuration – Administrative Templates – Windows Components – Windows Messenger. Tại đây, bạn có thể ngăn dịch vụ này hoạt động hoặc lựa chọn cho phép nó hoạt động theo yêu cầu của bạn. Theo cách này, bạn cần lýu ý, mặc dù dịch vụ đã bị vô hiệu hóa, nhýng một số chýõng trình khác của Microsoft (Outlook, Outlook Express) vẫn có thể khiến dịch vụ hoạt động.

Thủ thuật 15: TĂNG TỐC CHO XP
Mở Registry Start – Run – gõ regedit và tìm tới khóa
HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\Curr entVersion\Explorer\RemoteComputer\NameSpace

Chọn nhánh {D6277990-4C6A-11CF-8D87-00AA0060F5BF} và xóa nó đi. Tuy nhiên, trýớc khi xóa nhánh này bạn nên sao lýu lại phòng trýờng hợp hệ thống có vấn đề. Để làm việc này, bạn nhấn chuột phải vào nhánh cần sao lýu, và chọn Copy Key Name rồi lýu vào một file văn bản.

Khóa trên đòi hỏi XP phải tìm kiếm tất cả các chýõng trình làm việc theo lịch (Scheduled Tasks). Điều này khiến cho tốc độ duyệt của XP bị chậm lại. Mặc dù thủ thuật trên nhằm tăng tốc độ duyệt cho các hệ thống chạy Win2000 và XP trong mạng LAN, nhýng nó cũng cải thiện tốc độ duyệt một các bất ngờ cho Windows ngay trên máy trạm. Thay đổi này có tác dụng tức thì và chúng ta có thể cảm nhận đýợc sự cải thiện tốc độ ngay lập tức.

(copy từ kithuattinhoc)

powered by performancing firefox


Hai mươi mẹo giữ Windows XP luôn tươi mới

Tháng Một 3, 2007

Vista sắp ra mắt, nhưng XP vẫn còn giữ nguyên giá trị của mình. Người ta hồi hộp mong chờ giao diện màn hình trong suốt, thành phần đồ hoạ 3D đẹp mắt cùng nhiều tính năng thú vị ở Vista. Còn nói theo ngôn ngữ hiện nay, tuy không có vẻ bề ngoài “hoành tráng” như hệ điều hành mới sắp ra mắt thị trường trong nay mai, nhưng không thể phủ nhận tính hữu ích của Windows XP vẫn chưa hề giảm sút.

Cũng xin chú thích thêm là đáp ứng được các tiêu chuẩn của Windows Vista không phải dễ dàng. Màn hình Aero, tính năng đồ hoạ nâng cao đòi hỏi phần cứng của bạn phải khá mạnh. Nếu chưa thực sự thấy cần thiết phải đầu tư vào hệ điều hành mới, bạn nên giữ chế độ bảo dưỡng thường xuyên, kiểm tra định kỳ hệ điều hành cũ của mình (tôi dám chắc hầu hết hiện nay là Windows XP).

Dưới đây là một số mẹo giúp bạn giữ cho hệ điều hành vốn có luôn ở trạng thái “tràn trề sinh lực”.

1, Tắt chức năng Upgrade Bandwagon

Nếu bạn liên tục cập nhật phiên bản mới nhất, mạnh nhất cho các chương trình ứng dụng yêu thích mà không đồng thời nâng cấp phần cứng và hệ điều hành Windows, hệ thống của bạn có thể sẽ trở nên khập khiễng và già cỗi. Thay vì đuổi theo cuộc chạy đua không có điểm dừng của các bản nâng cấp, hãy gắn bó với phiên bản ứng dụng phù hợp nhất với hệ thống của bạn. Nhiều khi đó không phải là bản mới nhất có trên thị trường.

Hầu hết chương trình ứng dụng ngày nay đều có chức năng auto-update. Nhiều chương trình không cần thiết và bạn nên tắt chúng đi. Nhưng với phần mềm tường lửa, chương trình diệt virus và chương trình ngăn chặn phần mềm gián điệp thì luôn luôn để chế độ update tự động sẽ giúp bạn an toàn hơn rất nhiều. Ví dụ như Adobe Reader. Để block chức năng tự động update lên phiên bản 7.0, bạn hãy vào Edit > Preferences > Updates > chọn “Do not automatically check for critical updates”. Vì sao các nhà phát triển quyết định thời gian và cách thức update ứng dụng cho bạn? Tất nhiên cũng có một số lý do, có thể đặc biệt hoặc không. Đó có thể là mở rộng thêm tính năng, nâng cao tốc độ, sửa lỗi của phiên bản cũ…? Hãy sáng suốt lựa chọn kiểu phù hợp cho mình và nếu gặp vấn đề gì với chương trình hay cần thành phần mới cụ thể nào đó, hãy lướt qua website của nhà sản xuất và download chúng. Họ có đầy đủ những gì bạn muốn, chỉ cần chúng phù hợp cho bạn.
Bỏ chương trình update không thời hạn bằng cách vô hiệu hoá các ứng dụng starup có chức năng liên lạc với nhà sản xuất
Mỗi sản phẩm đều có phương thức khác nhau để giám sát chương trình nâng cấp. Bạn nên kiểm tra tính năng này trên từng ứng dụng. Chúng cũng có công cụ giống như chương trình Startup Control Panel, giúp bạn gỡ bỏ phần mềm chạy ở phần hậu cảnh và luôn luôn kiểm tra chế độ update.

2, Hãy đổi nếu bạn thấy cần

Windows luôn chỉ định một vùng không gian bộ nhớ làm bộ nhớ ảo (hay còn gọi là “swapfile”, “pagefile”), hỗ trợ thêm cho RAM. Tất cả chương trình đều được cấp phát một phần bộ nhớ ảo. Và chính bản thân bộ nhớ ảo cũng sẽ được dùng ngay cả khi RAM vẫn đang trong quá trình sử dụng. Truy cập đĩa cứng luôn chậm hơn so với dùng RAM. Vì thế nếu máy của bạn thừa thãi bộ nhớ, bạn có thể nâng cao tốc độ thực thi cho các chương trình bằng cách nói với Windows đừng nên dùng pagefile cho một số chương trình đến khi nào nó được dùng bởi RAM. Dung lượng bộ nhớ bao nhiêu thì được gọi là “thừa thãi”? Điều đó phụ thuộc vào số lượng và kiểu ứng dụng chạy trên hệ thống. Nhưng tốt nhất đừng nên điều chỉnh gì nếu máy bạn không có RAM ít nhất từ 1GB trở lên.

Muốn Windows dùng bộ nhớ ảo như một giải pháp cuối cùng, bạn phải chỉnh sửa một số thông số trong Windows Registry. Nhưng chú ý là hãy sao lưu phần Registry trước khi thay đổi. Vì mọi thay đổi trong phần này đều rất nguy hiểm, có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nếu bạn làm sai một bước nào đó. (Microsoft khuyến cáo không nên loại bỏ toàn bộ pagefile).

Muốn sao lưu phần Registry, bạn vào Start > Run > gõ lệnh “regedit” rồi ấn <Enter>.
Trong cây thư mục bên trái, đánh dấu và chọn HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Contro l\Session Manager\Memory Management.

Kích đúp vào biểu tượng của Disable, Paging và Executive ở ô bên phải. Thay đổi giá trị 0 trong ô Value thành 1. Kích vào OK và khởi động lại máy.

3, Theo dòng NTFS

Nếu bạn đang sử dụng định dạng file cũ FAT32 cho ổ cứng, tốt hơn hết là bạn nên chuyển sang kiểu NTFS. Bên cạnh việc nhanh hơn, an toàn hơn, NTFS còn cung cấp chức năng mã hoá, chức năng nén đĩa và thư mục cùng một số tính năng mạnh khác. Bạn chỉ nên dùng định dạng file FAT hay FAT32 khi cần truy cập đĩa cứng trên nền DOS hoặc Windows 98.

Muốn chuyển sang kiểu NTFS, bạn không cần phải format lại đĩa cứng và hoàn toàn có thể khôi phục lại ứng dụng, dữ liệu từ file đã sao lưu. Chỉ cần chọn Start > Run > gõ lệnh “cmd.exe” rồi bấm phím <Enter> để mở cửa sổ lệnh Command Prompt. Bây giờ hãy gõ lệnh chuyển đổi: sau ký tự trống là tên ổ (A, B, C), dấu hai chấm, ký tự trống tiếp và cuối cùng là “/fs:ntfs”.

Ví dụ muốn chuyển đổi ổ C sang kiểu định dạng NTFS, bạn chỉ cần gõ: “c:/fs:ntfs”.

4, Thiết lập lại các thuộc tính System Restore (khôi phục hệ thống)

System Restore đã cứu cho tôi nhiều bàn thua trông thấy. Để điều chỉnh tổng lượng không gian đĩa cần cho System Restore, hãy kích phải chuột vào My Computer trong cửa sổ Explorer hoặc trên nền desktop và chọn Properties. Kích vào tab System Restore và chọn ổ bạn muốn thay đổi các thiết lập lưu trữ. Chọn Settings, kéo từ mức “slider” đến mức “desired” rồi kích vào OK hai lần.

5, Định vị lại tài nguyên hệ thống

Một số file (chẳng hạn như các file trong System Restore) phải được lưu trữ trong ổ cài hệ điều hành Windows. Nhưng nếu có nhiều ổ cứng hoặc nhiều phân vùng, bạn có thể giải phóng không gian cho ổ cài Windows bằng cách chuyển các file hệ thống khác sang nơi mới.

6, Bỏ chế độ Hibernation

Khi sử dụng chức năng Hibernation của Windows để khởi động nhanh hơn, hệ điều hành sẽ đặt mọi thứ vào RAM, trong một file ẩn có tên “hiberfil.sys” trên ổ cứng. File này hầu như luôn có cùng kích cỡ với RAM. Nếu như máy có RAM 512 MB thì file ẩn này cũng có dung lượng là 512MB. Giống như các điểm trong System Restore, file hibernation cũng phải được đặt trong cùng một ổ với Windows. Nếu bạn đã sử dụng hết không gian trong ổ cài Windows và không dùng chức năng hibernation (hoặc không cho là nó hữu ích), bạn có thể tiết kiệm được một lượng lớn không gian đĩa bằng cách tắt nó đi. Khi đó file hiberfil.sys sẽ bị xoá. Bạn có thể thực hiện như sau:

Vào Start > Run > gõ lệnh “powercfg.cpl” và ấn <Enter>. Kích vào tab Hibernate, đánh dấu bỏ chọn “Enable hibernation “. Sau đó kích OK.
‘Ngủ đông’ có nhiều quá không? Hãy tiết kiệm ‘hàng tấn’ không gian đĩa bằng cách bỏ đi thành phần Hibernation trong phần Power Options của Control Panel).

7, Loại bỏ sự lộn xộn

Cách dễ nhất để loại bỏ sự lộn xộn cho ổ cứng của bạn là dùng chức năng Disk Cleanup của Windows, tạo chế độ xoá tuỳ chọn. Tiện ích này cho phép bạn vứt bỏ đi hàng loạt file tạp nhạp trong khi vẫn giữ bộ nhớ cache Internet nguyên vẹn để tối ưu hoá thực thi trình duyệt cùng với nhiều tuỳ chọn khác.

8, Thực hiện xoá chuyên sâu hơn

Đáng tiếc là công cụ Disk Cleanup bỏ qua nhiều file tạm thời. Dưới đây là một số file giúp bạn hoàn chỉnh nhiệm vụ này: Vào Notepad (hoặc trình soạn thảo văn bản yêu thích nào đó của bạn), gõ vào khung soạn thảo: del /s /q C:\Documents and Settings\Username\Local Settings\Temp\*.*”; thay thế “Username” bằng tên tài khoản và điều chỉnh ký tự tên ổ đĩa nếu cần thiết. Ghi lại file dưới tên: deltemp.bat (để chắc chắn là bạn sử dụng tên miền mở rộng “.bat” của kiểu file batch) và lưu vào cùng nhóm với các file batch khác. (Nếu bạn không có các file batch khác, Desktop hoặc bất kỳ thư mục dễ truy cập khác sẽ thực hiện điều đó). Sau đó add file này nào thư mục Startup (Start > All Programs > Startup) để nó xoá các file mỗi lần bạn đăng nhập Windows.

9, Xoá phần sao lưu

Bạn có thể kiểm tra các tính năng tuỳ chọn nâng cao của công cụ Dish Cleanup trên tab More Option để xoá tất cả các phần sao lưu đã cũ. Lưu ý là nên giữ lại các điểm sao lưu gần nhất vì có thể bạn sẽ cần phục hồi lại chúng.
Nếu hệ thống bạn đang chạy ổn định, hãy xoá đi dung lượng của phần sao lưu cũ và giữ lại điểm sao lưu gần nhất.
10, Tránh trường hợp nhạc bị nhân bản

Sau khi copy các bài hát trong đĩa CD và ghi chúng lại dưới kiểu định dạng Windows Media Audio (WMA), bạn quyết định dùng chúng trong một công cụ nào đó như iTunes để có thể nghe chúng ở bất cứ đâu. Nhưng như thế có nghĩa là bạn đã chuyển các bài hát sang kiểu định dạng Advanced Audio Coding (AAC). Kiểu định dạng này thường hay nhân bản các bài hát, khiến dung lượng ổ cứng của bạn bị hẹp lại. Để tiết kiệm không gian đĩa, hãy kết hợp với chương trình nghe nhạc hoặc ít nhất là một kiểu định dang (như MP3) mà chương trình đa chức năng có thể điều khiển. Windows Media Player 10 có thể đọc các file nhạc dưới dạng MP3 mà không cần thêm bất cứ phần mềm hỗ trợ nào. Muốn chọn kiểu định dạng cho file dạng copy từ đĩa CD vào ổ cứng bằng Windows Media Player, bạn vào Tool > Options > kích vào tab Rip Music. Chọn tuỳ chọn mong muốn từ danh sách Format sổ xuống và kích OK.
Để tránh lãng phí thời gian khi copy file nhạc, bạn nên tránh việc nhân bản file; nên chọn kiểu định dạng tương thích với tất cả chương trình nghe nhạc và công cụ xem hình

powered by performancing firefox


8 chiêu tối ưu hóa Windows XP bằng Registry

Tháng Một 3, 2007

Bạn có bao giờ “ứa gan” khi thấy cái hệ điều hành Windows XP thời thượng của mình ngày càng chạy chậm hơn không? Nhiều khi gấp gáp vào làm việc mà nhìn nó đủng đỉnh khởi động, người ta thiếu điều muốn “kêu lính bắt nó cho rồi”.

Thật tình có nhiều cách để giúp cho Windows làm việc nhanh hơn, thông minh hơn và an toàn hơn. Và ở đây, chúng ta sẽ cho Windows một liều Viagra bằng cách đột phá vào cái kho khổng lồ chứa các thiết đặt của hệ điều hành. Đó là Registry.

Xin lưu ý nhé: bất cứ mọi sự chỉnh sửa nào ở Registry đều phải được tiến hành một cách cực kỳ cẩn trọng. Những thay đổi không cẩn thận có thể làm cho Windows quờ quạng hoặc thậm chí khiến bạn không còn vào được Windows nữa. Các chuyên gia khuyến cáo: Trước khi đụng chạm bất cứ thứ gì của Registry, bạn phải sao lưu các thiết đặt Registry hiện hành của mình. (Tham khảo: Cách sao lưu Registry.)

Chắc cái bụng rồi thì bây giờ bạn bắt đầu “voọc” cái “trái cấm” Registry nhé. Cách mở Registry Editor (trình biên tập Registry) là click Start ® Run, gõ regedit vào box và nhấn Enter.

1. Tăng tốc cho menu Start

Đây là một mẹo “tweak” cái Registry rất đơn giản nhưng có thể giúp tăng tốc mở menu Start và các menu phụ của nó.

Mở Registry Editor, chọn mục HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop. Click đúp chuột lên icon MenuShowDelay ở cánh bên phải. Trên hộp thoại Edit String, thay ‘Value data’ từ giá trị mặc định 400 (milliseconds) bằng giá trị nhỏ hơn (tức nhanh hơn), thí dụ là 0. Ngược lại, nếu thấy menu Start xuất hiện quá nhanh đối với mình, bạn có thể chỉnh cho nó mở chậm lại, có thể tới 4000 (tức 4 giây). Xong xuôi, nhấn Enter.

2. Đóng các ứng dụng nhanh hơn

Vội đi đâu đó, bạn phải bye Windows ngay thôi. Nhưng khi thoát một chương trình hay đóng Windows, bạn phải chờ nóng cả ruột để các ứng dụng nào đó đóng lại thì mới có thể shut down được. Sau một lúc chờ đợi mấy gã ứng dụng thoát ra, Windows cũng phát nóng ruột bèn tung ra cái hộp thoại End Program để bạn có thể buộc các ứng dụng kia phải đóng ngay lại.

Bạn có thể giảm thời gian chờ đợi các ứng dụng đang chạy đóng lại bằng mẹo mở Registry Editor, chọn HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop, sau đó click đúp lên icon của hai mục bên cánh phải:

1. HungAppTimeout, thay giá trị “Value data” từ mặc định là 5000 (milliseconds) xuống còn chừng 3000 (tức 3 giây) hay 2500.

2. WaitToKillAppTimeout, thay giá trị “Value data” từ mặc định là 20000 (20 giây) bằng giá trị thời gian mà bạn có thể chờ được (1000ms có nghĩa là 1 giây đó bạn nhé).

Nhấn Enter.

Nhưng không phải chỉ có các ứng dụng đang chạy mới làm quá trình shut down Windows trở nên chậm chạp đâu nhé. Nhiều quá trình xử lý của Windows XP (gọi là services) đang chạy cũng làm tăng thời gian chờ đợi shut down. Bạn có thể giảm thời gian đóng của các dịch vụ Windows này bằng cách mở Registry Editor, chọn HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Contro l, click đúp lên icon WaitToKillServiceTimeout bên cánh phải. Thay đổi giá trị mặc định của ‘Value data’ từ 20000 (20 giây) bằng thời gian mà bạn cho phép các dịch vụ đóng. Thí dụ 5000 (5 giây). Nhấn Enter. Xin lưu ý: Có một số dịch vụ sẽ tự động tăng thời gian chờ của mình lên mức cần thiết đủ để có thể dọn dẹp tác vụ của mình trước khi đóng.

Xin rỉ tai một bí mật: Bạn có thể buộc Windows phải tự động đóng các ứng dụng đang treo mà không cần phải làm phiền bạn với cái hộp thoại End Program nữa. Bạn mở Registry Editor, chọn HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop. Click đúp lên icon AutoEndTasks ở cánh phải và thay đổi ‘Value data’ từ 0 thành 1. Nhấn Enter. (Để khôi phục lại chức năng hộp thoại End Program mặc định của Windows, bạn chỉ cần nhập lại giá trị mặc định của AutoEndTasks là 0.) Tuy nhiên, bạn bè cũng xin nói thật với nhau: Việc chọn cho phép các vụ tự động tắt không cần Windows thông báo như thế có thể gây tổn hại cho các thiết đặt hệ thống do buộc các ứng dụng phải quýnh quáng đóng quá nhanh, không kịp thực hiện các bước chuẩn bị và dọn dẹp các tàn tích do chúng tạo ra trong quá trình chạy. Cách dung hòa là bạn vẫn cho Windows thông báo End Program, nhưng giảm thời gian chờ đóng của các ứng dụng đang chạy như vừa trình bày.

3. Thay đổi kích thước wallpaper

Bình thường thì các hình nền wallpaper được thiết kế cho vừa với độ phân giải của màn hình. Nếu ảnh lỡ nhỏ hơn một chút thì bạn vẫn có thể dùng tùy chọn Stretch trong Properties ® Desktop ® Position để kéo nó ra cho phủ hết màn hình desktop.

Nhưng cũng có khi bạn muốn đưa lên desktop một hình khá nhỏ hay đơn giản là muốn cái desktop của mình hơi bị lạ mắt, như cho wallpaper nằm ép về một bên nào đó.

Bạn mở Registry Editor, chọn HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop và xem ở bên cánh phải đã có các key WallpaperOriginX và WallpaperOriginY chưa? Nếu chưa có, bạn phải tự tạo chúng thôi. (Tham khảo: Cách tạo key mới)

Click chuột phải lên một khoảng trống bên cánh phải, chọn New ® String Value và gõ tên key vào. Nhấn Enter. Key WallpaperOriginX để xác định vị trí cạnh trái (giá trị dương) hay cạnh phải (giá trị âm -) của wallpaper trên desktop. Còn key WallpaperOriginY để xác định vị trí cạnh trên (giá trị dương) hay cạnh dưới (giá trị âm -) của wallpaper. Để thay đổi vị trí của wallpaper, bạn phải thay đổi giá trị (tính bằng pixel) của key tương ứng, bằng cách click đúp lên icon của key và thay đổi giá trị “Value data” của nó. Giá trị này tương ứng với khoảng cách từ mép ảnh ra tới cạnh màn hình. Chẳng hạn, nếu muốn wallpaper nằm dạt về bên phải màn hình, ở key X, bạn nhập giá trị dương (thí dụ: 200), còn ở bên trái thì dùng giá trị âm (-200). Tương tự, ở key Y, giá trị dương đẩy ảnh dạt về phía dưới màn hình và âm đẩy lên phía trên.

Để test hiệu ứng này, bạn thu nhỏ cửa sổ Registry Editor (cũng như tất cả các cửa sổ đang mở), click chuột phải lên màn hình desktop, chọn Properties. Mở tab Desktop trên bộ hộp thoại Display Properties, bấm vào một tùy chọn nào đó ở mục Position và nhấn Apply hay OK. Nếu chưa vừa ý thì quành trở vào Registry Editor mà thay đổi giá trị của WallpaperOriginX và WallpaperOriginY.

4. Tìm mọi loại file

Khi bạn tìm kiếm một file nào đó trong Windows (bằng cách chọn Start ® Search ® For Files or Folders hay nhấn phím [F3] trong bất cứ cửa sổ Explorer hay folder nào để mở cửa sổ tìm kiếm), Windows chỉ tìm kiếm các định dạng file mà nó công nhận. Các định dạng file không được liệt kê trong bản danh sách ‘Registered file types’ sẽ bị Windows “gặp nhau làm ngơ”. (Để xem cái bản Phong Thần này, bạn chọn Tools ® Folder Options và mở tab File Types.)

Có một mẹo Registry có thể bắt Windows phải ngoan ngoãn tìm kiếm bất cứ file nào bạn cần mà không thèm quan tâm tới định dạng của nó.

Bạn mở Registry Editor, chọn mục HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Contro l\ContentIndex. Click đúp lên icon FilterFilesWithUnknownExtensions bên cánh phải, thay đổi giá trị mặc định 0 trong ‘Value data’ thành 1, và nhấn Enter.

Để chắc cú hơn nữa, bảo đảm cho Windows không cứng đầu cứng cổ bất tuân thượng lệnh của mình, bạn mở cửa sổ Search lên, chọn All Files and Folders, kéo thanh trượt xuống để đánh dấu chọn vào các mục Search system folders, Search hidden files and folders, và Search subfolders. (Nếu không thấy các mục này, bạn nhấn vào mục More advanced options).

Sau đó, bạn mở một cửa sổ nào đó của Windows (như My Computer, Windows Explorer), nhấn lên menu Tools ® Folder Options, mở tab View, chọn Show hidden files and folders, và bỏ chọn Hide protected operating system files (Recommended). Khi có hộp thoại cảnh báo nguy hiểm, bạn cứ việc nhấn Yes. Xong thì nhấn OK.

5. Lộ mặt account Administrator

Theo mặc định, account “Administrator” của Windows XP được giấu, trừ khi máy bạn không có thiết đặt một account nào khác hay khi boot ở chế độ Safe Mode. Nếu muốn cho account “Administrator” lộ mặt trên màn hình Welcome của Windows, bạn có thể dùng mẹo Registry.

Mở Registry Editor, chọn mục HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows NT\CurrentVersion\Winlogon\SpecialAccounts\UserLis t. Click đúp lên icon Administrator trên cánh phải và thay đổi giá trị của nó trong “Value data” từ 0 thành 1.

Nếu không thấy có icon này, bạn phải tạo nó thôi. Bạn click chuột phải lên một khoảng trống ở cánh phải, chọn New ® DWORD Value và đặt tên cho nó là Administrator, nhấn Enter. (Tham khảo: Cách tạo key mới)

Từ nay trở đi, mỗi khi bạn mở cửa sổ User Accounts thông qua Control Panel (hay mở Start *® Run và gõ từ khóa Control userpasswords rồi Enter), bạn sẽ nhìn thấy tên account Administrator. bạn có thể dễ dàng thay đổi hình đại diện của nó hay đặt password cho nó. Rồi mỗi khi khởi động Windows, bạn cũng sẽ thấy cái account Administrator chường mặt ra trên màn hình Welcome bên cạnh tất cả các account khác.

6. Mở nhanh tới các key trong Registry

Có những key trong Registry của Windows XP mà bạn phải thường xuyên lui tới để kiểm tra và hiệu chỉnh. Thí dụ cái key HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\Curre ntVersion\Explore\MenuOder\ dùng để xếp các danh sách ứng dụng hay link lại theo trật tự ABC (delete cái key Order). Nhưng nếu mỗi lần muốn đụng tới chúng, bạn phải mở cửa sổ Registry Editor rồi bấm chuột mở hàng loạt cây thư mục thấy mà muốn hoa cả mắt.

Mẹo xử cái vụ này là khai thác cái menu Favorites của Registry Editor. Chọn trong cánh trái của cửa sổ cái key mà mình hay phải xài thường xuyên, nhấn lên menu Favorites, chọn Add to Favorites, chọn OK trên hộp thoại Add to Favorites.

Thế là từ nay, mỗi khi muốn xử cái key này, bạn chỉ việc mở menu Favorites của Registry Editor, bấm vào tên key là nó đưa bạn tót ngay tới vị trí key đó.

7. Thay tên đổi họ cho Internet Explorer

Mặc định, thanh tiêu đều (title bar) của trình duệt Web Internet Explorer hiển thị tên của trang Web mà bạn đang xem, tiếp theo là chữ “Microsoft Internet Explorer”. Trong một số trường hợp, trên thanh đó có tên công ty bạn hay tên của ISP cung cấp trình duyệt Web đó.

Bạn có thể thay đổi các chữ xuất hiện trên thanh tiêu đề này (sao không thay bằng tên bạn cho nó oách hén) bằng cách mở Registry Editor. Chọn HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main, click đúp lên icon Window Title và gõ vào đó những chữ gì mình muốn hiển thị. Nếu không thấy có key này, bạn tạo nó bằng cách click chuột phải lên khoảng trống ở cánh phải, chọn New ® String Value và gõ tên vào tên key Window Title. (Tham khảo: Cách tạo key mới)

Nếu không nhập chữ gì vào giá trị của key Window Title thì sau này trên thanh tiêu đề IE sẽ chỉ còn tên trang Web mà mất đi cái dòng “Microsoft Internet Explorer”. Nếu muốn khôi phục lại tên cúng cơm cho “Microsoft Internet Explorer”, bạn phải delete cái key này.

Trước…

và sau khi sửa Registry.

8. Hiệu chỉnh dung lượng đĩa cho System Restore

Nếu Windows XP của bạn có bật chức năng khôi phục hệ thống System Restore, cái mẹo Registry này có lẽ hữu ích à nghen.

Để thiết đặt dung lượng dành cho System Restore, bạn vào Control Panel mở System, mở tab System Restore. Nhấn Setting và kéo thanh trượt để xác định dung lượng đĩa dành cho chức năng này. Mặc định là Max (12% dung lượng ổ đĩa mà bạn dành để chứa các dữ liệu của System Restore). Nhưng thực tế là Windows không tự động sử dụng dung lượng đĩa này mà tuân thủ theo mức mặc định trong Registry. Khi dung lượng đĩa trống còn quá ít hay khi dung lượng dữ liệu lưu trữ vượt quá mức quy định, nó sẽ đình công.

Vì thế, bạn có thể chỉnh sửa lại các giá trị của System Restore trong Resgistry. Mở Registry Editor, chọn HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\ Microsoft\Windows NT\CurrentVersion\SystemRestore. Bạn xem bên cánh phải có 3 key xác định dung lượng ổ đĩa cho System Restore.

Đó là DiskPercent (tỷ lệ đĩa cứng thiết đặt trong Setting); DSMax (dung lượng đĩa mặc định tối đa mà Registry cho phép System Restore sử dụng, tính bằng MB, giá trị chung là 400); và DSMin (dung lượng đĩa mặc định tối thiểu, giá trị chung là 200MB). Bạn thấy là dung lượng DSMax mặc định rất thấp so với thực tế mà bạn muốn dành cho nó. Hãy click đúp chuột lên icon DSMax, chọn hệ số thập phân Decimal và thay giá trị trong “Value data” từ 400 tới con số mà bạn muốn. Còn ở DSMin, để tránh tình trạng System Restore “bỏ việc” khi thấy dung lượng đĩa trống còn 200MB, bạn click đúp chuột lên key này vào thay giá trị Decimal còn 100 (tức 100MB).

( Tài liệu sưu tập )

powered by performancing firefox